Làm sao để nhìn nhận dòng tiền trên đồ thị cổ phiếu

Khối lượng trên 1 đồ thị cổ phiếu có lẽ là HIỂU LẦM lớn nhất mà các trader giao dịch trên thị trường gặp phải khi cố gắng dùng các chỉ báo kỹ thuật nhìn nhận nó.Chỉ có 1 vài lần nó mang lại điều hữu ích . Trong thực tế , bạn có thể mua bán 1 loại chứng khoán bất kỳ mà không cần dùng tới nó

Đầu tiên cần nhìn nhận khối lượng là gì ?

Khối lượng , về bản chất là số lượng cổ phiếu được các nhà đầu tư trao tay giữa người bán và người mua. Lượng hàng khớp lệnh trên bảng điện được xem là khối lượng giao dịch tính trong khung thời gian đó ( intraday hoặc daily )

Thông thường , khối lượng thể hiện mức độ quan tâm của thị trường tới cổ phiếu . 1 cổ phiếu giao dịch ở khối lượng thấp , mức độ quan tâm của nhà đầu tư tới cổ phiếu ở mức thấp . Ngược lại , nếu 1 cổ phiếu giao dịch ở khối lượng cao , mức độ quan tâm của thị trường tới cổ phiếu này ở mức độ cao

Ví dụ về cổ phiếu SSI:

undefined

Ví dụ thứ 2 về cổ phiếu dòng mía đường SBT:

undefined

Trong bài viết về amibroker lần trước tôi có hướng dẫn mọi người sử dụng app pattern explorer tích hợp trong amibroker để phân loại và lọc dòng tiền , từ đó có thể nhìn nhận 1 cách chính xác khối lượng đang ở phân khúc nào trong thị trường.Như trong hình vẽ dưới đây mọi người có thể thấy ưu tiên khối lượng được xếp thứ tự từ trên xuống dưới . Nếu ai không tìm thấy trong bài viết cũ của tôi có thể chat qua skype

undefined

Tính thanh khoản

Khối lượng trên đồ thị cổ phiếu cũng chỉ ra cho chúng ta mức độ thanh khoản của cổ phiếu ( liquid ). Tính thanh khoản đơn giản chỉ ra cho chúng ta mức độ dễ dàng khi tham gia và thoát ra khỏi 1 cổ phiếu thế nào

Nếu 1 cổ phiếu giao dịch với khối lượng thấp chứng tỏ không có nhiều nhà đầu tư quan tâm tới nó và rất khó để tìm 1 nhà đầu tư mua hay bán cổ phiếu đó . Cổ phiếu này được gọi là thanh khoản thấp hay không thanh khoản ( illiquidity)

Nếu 1 cổ phiếu giao dịch với khối lượng cao chứng tỏ có nhiều nhà đầu tư quan tâm tới nó và rất dễ để tìm 1 nhà đầu tư mua hay bán cổ phiếu đó . Cổ phiếu này được gọi là thanh khoản cao ( liquid )

Nền tảng của Phân tích kỹ thuật là lý thuyết Dow ( Dow Theory ) chỉ ra rằng vận động của giá phải đi liền với khối lượng . Gía tăng => khối lượng tăng tạo sự đồng thuận , giá giảm => khối lượng giảm . Nếu đi ngược sự vận động trên thì thị trường sớm muộn cũng đảo chiều

Tôi xin lấy ví dụ về $VNINDEX :

undefined

Khối lượng (volume) tại điểm cản

Nhìn vào $HAG các bạn có thể thấy sự vận động của Volume có 1 sự quái chiêu . Đôi khi chúng ta lầm tưởng volume cao là động thái đánh lên cổ phiếu nhưng thực sự không phải . Volume cao là thời điểm các BBs THOÁT HÀNG tại các điểm cản của giá

undefined

Nguyên lý phân phối và Volume Breakout trend :

Thật ra về bản chất , vận động của thị trường phải xem xét về point , dòng tiền bạn chỉ quan tâm giai đoạn đầu sóng hoặc những phiên volume cao để biết 2 điều :

– Cổ phiếu nào dẫn dắt , ngành nào sẽ leader thị trường đi lên
– Phân phối hay breakout vượt đỉnh

Trong nội dung bài viết này tôi chỉ chia sẻ 1 vài vấn đề vì dù thế nào khả năng cũng chỉ có giới hạn trong tâm hiểu biết . Nói nhiều , nói dai thành nói dại

Breakout trend : Đa số các trader thường quan tâm tới 2 điều khi nhìn nhận volume breakout trend và thường sai lầm ở chỗ này

1. Kẻ bất kỳ trend nào chỉ cần nó hướng xuống và mặc định vol breakout lúc đó là vol phá vỡ xu hướng giảm
2. Đa số lấy cả 4 trường dữ liệu giá OHLC

Ở đây mình xin phép chia sẻ quan điểm cá nhân chỉ view 2 điều :

1. Lấy giá close làm nền tảng analysis
2. Phân tích khi phá vỡ đáy bằng và cản tĩnh nằm ngang

Giới thiệu các bác cổ phiếu $CTG

undefined

Gía đi ngang tích lũy , khối lượng breakout tại điểm phá cản => tín hiệu mua rõ ràng

Phân phối giá

Nguyên lý về sự phân phối có 2 trường pháp cơ bản . Phân phối tại điểm giá và phân phối tích lũy hay còn gọi là lý thuyết phân phối theo phương pháp william O’neil – 1 nhà phân tích kỹ thuật nổi tiếng

Phân phối tại điểm hay còn gọi là phiên wash out là phiên rũ bỏ toàn thị trường. Đặc điểm phiên này là giá mở cửa gần như là giá cao nhất ngày , sau đó thị trường bắt đầu bán xuống và đóng cửa cuối phiên là áp lực bán tháo ra ở tất cả các cổ phiếu . Nến bearish với thân nến cực kỳ dài và xấu . Volume cao nhất trong 1 giai đoạn . Nến này xuất hiện khi thị trường đang hưng phấn , volume trung bình toàn thị trường đang ở mức cao và giá tiệm cận cùng đỉnh cũ ( đỉnh cũ +/- 2% ) . Cuộc chơi ở đây là đánh breakout tạp trap giả và đạp mạnh xuống tạo hiệu ứng “Hòn tuyết lăn” đẩy cả thị trường bán tháo

Sau phiên wash out , khối lượng thị trường bắt đầu đi xuống và rơi vào trạng thái thanh khoản yếu dần.Khi volume thị trường = 20-25% so với đỉnh , thị trường sẽ bắt đầu tạo đáy

Kịch bản 23/10/2009 là 1 ví dụ cụ thể

undefined

Thoát hàng khi dính phân phối ?

Câu chuyện thường thấy khi tâm lý gặp phân phối đỉnh là áp lực bán ra bằng mọi giá hoặc thị trường đi vào trạng thái hoảng loạn khi tâm lý nhà đầu tư cùng cực . Tôi xin gửi các bác hình $VNINDEX thể hiện 2 thời điểm thị trường bị dính wash out vào tháng 3 và tháng 9 năm 2014

Gía sau 1 giai đoạn tích lũy ngang dao động trong biên độ hẹp đã bị wash out sau đó và sụp đổ với volume cực cao và nến đỏ dài thể hiện tâm lý bán tháo diễn ra trên toàn market . Và diễn biến sau đó là 1 downtrend dài hạn , Tuy nhiên vấn đề ở đây là thị trường sẽ có 1-2 phiên pull back lại để xem phản ứng thị trường . Và đó là cơ hội thoát ra thị trường để tránh hậu quả đáng tiếc liên quan tới tài khoản

Volume sau đó suy giảm mạnh và downtrend dần đều tới khi cạn kiệt

undefined

Phân lớp cổ phiếu và nhìn nhận dòng tiền – Mô hình TOP-DOWN

Khi nghiên cứu từng phân khúc (thị trường, ngành và cổ phiếu) , một nhà đầu tư sẽ phân tích biểu đồ dài hạn và ngắn hạn để tìm những tiêu chuẩn đáp ứng các tiêu chí cụ thể. Đầu tiên các nhà phân tích sẽ xem xét thị trường nói chung, chỉ số S&P 500 đối với thị trường Mỹ , Nikkei đối với thị trường Nhật hay VnIndex đối với thị trường chứng khoán Việt Nam. Nếu các chỉ số này đang trong xu hướng tăng, sẽ tiến hành phân tích lựa chọn các biểu đồ của các nhóm ngành. Ngành nào cho thấy triển vọng nhất sẽ được chọn ra để phân tích chứng khoán cụ thể.

Một khi danh sách khi đã được thu hẹp trong các nhóm ngành , các nhà đầu tư có thể lựa chọn từ đó khoảng 3-4 nhóm ngành tiềm năng từ đó việc lựa chọn cổ phiếu có thể bắt đầu. Với lựa chọn từ 10-20 đồ thị chứng khoán từ mỗi ngành công nghiệp – hàng hóa , sau đó chọn lọc ra 3-4 cổ phiếu có triển vọng nhất trong mỗi nhóm ngành đã chọn. Những cổ phiếu hoặc nhóm ngành cuối cùng còn lại dựa trên các tiêu chí đã đề ra sẽ giảm thiểu tối đa rủi ro. Mô hình thu gọn từ Market -> Sector -> Company được xem là mô hình đầu tư tiêu biểu : Mô hình đầu tư TOP – DOWN

Bản chất thị trường là 1 chu kỳ và vận động giá tuân theo quy luật sau

undefined

Tâm lý nhà đầu tư cũng là 1 vòng xoay

undefined

Về vấn đề chia sẻ timing và đồng pha của sector và thị trường tôi không nói rõ trong này nhưng mọi người có thể tìm tòi đi từ căn bản lên từ việc ứng dụng công cụ bộ lọc trong amibroker và metastock để xây dựng cho mình tiêu chuẩn về sector : bất động sản , dầu , chứng khoán , ngân hàng , penny , midcap …. để biết được dòng tiền đang chảy vào đâu

undefined

Bình luận Facebook

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*